|
|
|
|
Đền Trần Thương, một biểu tượng thiêng trong tâm thức người dân
Thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam là nơi được Trần Hưng Đạo chọn làm kho lương của nhà Trần để phục vụ cuộc chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII. Nhân dân nơi đây đang nô nức chuẩn bị cho Lễ Phát lương vào giờ Tý, Rằm tháng Giêng, Tết Canh Dần 2010, tiến tới Đại lễ kỷ niệm 710 năm ngày mất của vị Anh hùng dân tộc Tiết Chế Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (20/8/1300 - 20/8/2010).
| |
| |
|
Thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam là nơi được Trần Hưng Đạo chọn làm kho lương của nhà Trần để phục vụ cuộc chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII. Nhân dân nơi đây đang nô nức chuẩn bị cho Lễ Phát lương vào giờ Tý, Rằm tháng Giêng, Tết Canh Dần 2010, tiến tới Đại lễ kỷ niệm 710 năm ngày mất của vị Anh hùng dân tộc Tiết Chế Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (20/8/1300 - 20/8/2010).
Đền Trần Thương thuộc thôn Miễu, xã Trần Thương, tổng Thổ Ốc, huyện Nam Xang thuộc phủ Lỵ Nhân (trấn Sơn Nam Thượng), thời Lý Trần thuộc Châu Lợi Nhân, lộ Đông Đô, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) lệ vào tỉnh Hà Nội, nay là thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, nằm ở phía Đông của huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam giáp sông Hồng.
 Muốn đến đền Trần Thương, khách thập phương có thể đi từ thành phố Phủ Lý về Vĩnh Trụ 14 km, theo đường ĐT 491 đi Bắc Lý, đến Cầu Không đi khoảng 4 km về phía Cống Tróc là có lối rẽ vào đền, hoặc từ Nam Định theo đường ĐT492 lên Vĩnh Trụ, rồi theo đường ĐT491 đi tiếp, hay đi dọc đê sông Hồng, đến điếm Tổng rẽ về Trần Thương...
Thế đất của đền Trần Thương: Bằng nhãn quan của nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc, Trần Quốc Tuấn chọn nơi cất giữ lương thảo, khí giới với thế đất “Hình nhân bái Tướng” và thuận tiện cho việc chi viện từ tổng kho Thăng Long (do Bà Nguyễn Thị Duyên ở làng Giảng Võ xưa coi giữ, nay là Quận Ba Đình, được nhân dân tôn vinh Bà Chúa Kho). Kho lương này có thể tiếp ứng quân lương xuôi sông Hồng về hay từ biển qua cửa Tuần Vường vào, chuẩn bị cho cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285). Cũng từ vị trí này, có thể chi viện cho quân ta ở Nam Thanh (Hải Dương), Tiên Lãng (Hải Phòng), Châu Hoan, Châu Ái (Nghệ An - Thanh Hóa). Địa thế này rất thuận tiện cho việc vận chuyển lương thảo của triều đình đến hoặc quân lương, khí giới của giặc tiếp viện đường biển quân ta cướp được đưa về. Địa thế vùng chiêm trũng thì hiểm yếu và khó với giặc, nhưng quân binh nhà Trần giỏi sông nước nên hợp ý quân. Vùng đất này có 6 con mương nhỏ gọi là “Lục đầu khê” như 6 con rồng chầu về. Đi theo các mương này ra Long Xuyên, xuôi Xuân Khê, ra sông Châu, xuống Tuần Vường ra biển. Hoặc từ đây ra sông Hồng chỉ gần 2 km, rồi qua phố Hiến (Hưng Yên), hay về Thăng Long. Chính vì thế đất quý nên Trần Hưng Đạo chọn làm kho và đặt tên là Trần Thương (nghĩa Hán, chữ thương là kho). Ông còn đặt tên các địa danh: “Đội Xuyên” (quân canh giữ thường xuyên), “Khu Mật” (khu tối mật), “Khu Hoàng” (khu của các vị hoàng tộc, vương tộc, quan tướng ở). Hiện nay, ở nơi đây vẫn còn giữ được tên cũ như Trần Thương, Khu Hoàng, Đội Xuyên. Chính vì tích hội đủ các yếu tố “Thiên - Địa - Nhân” ở đây nên nhân dân đã dựng đền thờ ông để tưởng nhớ công lao vị tướng tài ba được người đời tôn vinh lên bậc Thánh.
Đền được dựng vào thời hậu Lê, sang thời Nguyễn thì làm lại. Năm 1893, niên hiệu vua Thành Thái thứ năm thì trùng tu lần đầu. Với những nét đặc sắc và độc đáo về kiến trúc, sắp xếp địa cơ theo phong thủy như: Phía trước cổng có hồ nước gọi là “Huyền vũ” án cửa; cổng Tam quan chính Nam (theo kinh dịch là Ly) gọi là “Ngọ Môn Quan”. Từ cổng đi vào hơn 100m là tới đền. Ngay phía trước gian tiền tế là cổ lâu kê lư đá để thiêu hương. Tiếp theo là giếng nước ở giữa đền trước gian đệ nhị, đến gian đệ tam là hậu cung nơi thờ tượng của ngài, hai bên có tả vu và hữu vu nối đệ tam và đệ nhị trong tổng kiến trúc kiểu nội công ngoại quốc đậm nét kiến trúc thời Lý - Trần, kết tụ văn hóa Lê - Nguyễn ở đây. Sau đền là phủ thờ Mẫu, tiếp đến có gò đất cao tạo sơn trạch vững chắc ở chính Bắc (Khảm - Thủy) mang ý nghĩa thủy sinh mộc (trước có cây đa trên trăm tuổi đã đổ, nay đã trồng cây khác). Cây đa (mộc) còn là biểu tượng sự trường thọ, đặc trưng cho hướng Đông (Mão - Chấn), đứng cạnh chữ “Tiết” thành chữ “Trần”. Phía trước đền cả bên tả bên hữu có 2 giếng nước tượng trưng đôi vú, có hai giếng nhỏ cạnh phủ Mẫu là 2 tai. Như vậy, hồ nước trước cổng với bốn giếng ngoài đền và hồ khẩu bên trong cộng lại là lục thủy đều nạp âm trong tổng diện tích khu đền gần 19 ha. Điểm nổi trội là từ tư duy quân sự, cộng với tư duy của triết thuyết Khổng giáo về kinh dịch mà Trần Hưng Đạo chọn thế đất hình “Nhân bái tướng”, thế nước là “Lục vận” như: Lục hồ (ở đền); Lục đầu khê (6 sông nhỏ bên ngoài); Lục đầu giang (ở Kiếp Bạc). Như theo Hậu Thiên Bát quái thì Khảm (thủy) mang số 1; Kiền (Trời) mang số 6 là biểu tượng như vậy.
Đền được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá năm 1989. Năm 2009 được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp nguồn tôn tạo, trùng tu lại ngôi đền và được Trung ương cấp ngân sách quy hoạch mở rộng, cho phép mở Đại lễ kỷ niệm 710 năm ngày mất của Trần Hưng Đạo vào năm 2010. Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cùng với UBND huyện, Hội Đồng hương Hà Nam ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhân dân và khách thập phương xa gần tâm đức cúng tiến, đền đã được trùng tu và xây dựng trong tổng diện tích là 25 ha để kịp cho Đại lễ.
Tâm thức giỗ cha: Dân gian có câu: “Tháng tám giỗ Cha” là nói về ngày giỗ Đức Thánh Trần. Ngày “Giỗ Cha” là khi Trần Quốc Tuấn qua đời, ngày 20/8 năm Canh Tý (tức năm Hưng Long thứ tám, ngày 5 tháng 9 năm 1300). Ông mất tại tư dinh ở Phủ Đệ Vạn Kiếp, nay là đền thờ Kiếp Bạc thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Kiếp Bạc cùng với Bảo Lộc (Nam Định - quê hương ông) và Trần Thương là 3 nơi chính tổ chức lễ hội hằng năm đáp ứng tâm nguyện của nhân dân về chiêm bái và “Giỗ Cha”. Cũng rất nhiều nơi lập đền thờ ông, song nhân dân về Trần Thương vừa “Giỗ Cha” vừa bái yết xin “Lương”, xin lộc như ở đền Bà Chúa Kho vậy.
 Có câu: “Sinh Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc”. Chữ thác ở đây là gửi, là phó thác. Ngay từ lúc sinh thời, Trần Hưng Đạo đã gửi gắm sinh phần ở Trần Thương, chính vì vậy mà nhiều người cho rằng “thác Trần Thương” có nghĩa là ông để phần mộ ở đây. Ngay cả một số nhà ngoại cảm hiện nay cũng cho là như vậy (?). Theo truyền thuyết, Kiếp Bạc là nơi sau kháng chiến chống quân Nguyên - Mông kết thúc thắng lợi (1288), ông xa giá hai Vua về Thăng Long (Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông) rồi trở về tư dinh tại Phủ Đệ, bên thung lũng Kiếp Bạc cạnh Lục Đầu Giang. Đến khi lâm bệnh nặng, ông dặn con cháu: “Ta chết phải hỏa táng, cho xương vào những ống tròn chôn ở vườn An Lạc rồi trồng cây như cũ để người đời sau không biết đâu mà tìm”. Lời di chúc này liệu có gắn với “Viên Lăng” (tức là vườn mộ của ông) mà dân gian thường gọi ở một quả đồi nhỏ cách Kiếp Bạc 100m về phía Nam (?). Cho đến nay, các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được mộ phần của Trần Hưng Đạo ở đâu. Theo truyền thuyết, đám tang của ông có trên 70 chiếc quan tài từ tư dinh cùng một lúc xuất phát và đưa tang rải đi khắp nơi, có vợ con ông chia ra đi cùng.
Tuy chưa biết nơi nào ông yên nghỉ, song với tâm thức của người dân dành tình cảm kính trọng Đức Thánh Trần là Cha, biểu tượng thiêng liêng về bậc Đại Nhân, Đại Trí, Đại Dũng của trăm họ nên hằng năm vào ngày 20/8 âm lịch, nhân dân và khách thập phương xa gần về chiêm bái và tưởng niệm Đức Thánh Trần trong ý niệm thiêng liêng là “Tháng tám giỗ Cha” đã từ lâu.
Vào tháng tám âm lịch hằng năm, nhân dân tấp nập chuẩn bị cho ngày lễ chính. Từ ngày mồng một đầu tháng, nhân dân đã đến cúng bái lấy phúc. Đến mồng 10 là rước nước từ sông Hồng về. Các cụ kể lại là vừa “rước nước” vừa “nhập lương”. Còn có các nghi lễ cầu đảo, cúng tế đầu năm vào ngày tết Nguyên Đán, các vụ chiêm - mùa thì cầu cho bội thu với tâm ý là nơi kho lương của Đức Thánh Trần. Ngày mười rằm hương đăng hoa quả, ngày 18 là ngày cúng Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng (con thứ 3 của ông). Ngày 20 là tổ chức dâng hương giỗ chính, tiến hành phần “Lễ” gọi là phần thiêng, trong không khí thiêng hóa làm lòng người cùng cộng cảm và cộng mệnh. Hương trầm ngát tỏa, tất cả như thấy Hưng Đạo Đại Vương trên cao xanh, đang trầm tư vạch kế sách giữ nước với những áng thiên cổ hùng văn bất hủ như: “Vạn Kiếp Bí Tông Truyền thư”, “Binh Gia Diệu Lý Lếu lược” và “Hịch Tướng sỹ”.
Nghi thức phát lương: Nghi thức này nhằm tái hiện lịch sử về “Phát quân lương” khao quân của quân đội nhà Trần khi đánh thắng giặc Nguyên - Mông lần thứ 3 (1288). Lễ tế từ Tết Cả (tết Nguyên Đán) có gạo, hạt sen, đỗ là sản phẩm của quê hương. Dân gian có câu: “Cá Nhân Đạo, gạo Trần Thương”. Đến giờ Tý ngày 15 tháng Giêng (Tết Thượng Nguyên - rằm Nguyên Tiêu, còn gọi là ngày Vía của Phật Tổ) là tiến hành tế, lễ rồi “Xuất lương - Phát lộc” (Lộc Đức Thánh Trần). Ngoài ra, trong các ngày mồng một và rằm hằng tháng, cả 12 cái tết trong năm cũng đều cầu cho mùa màng, lương thực phúc lộc dồi dào. Bà con ở xa đến cúng lễ và công đức đều có “lương” ở đây mang về.
Tục rước nước: Trong Lễ hội ở nhiều nơi có tục rước nước để thực hiện nghi thức gọi là “Mộc Dục” (tẩy uế, hoặc rửa vật linh, tắm tượng). Nhưng ở đền Trần Thương, rước nước về tức là giữ vận nước may mắn cho đời sau. Không những thế, tục rước nước còn thể hiện là “nghinh lộc”, đón tinh khí của trời đất đem đến cho mùa màng.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với tâm đức của nhân dân cả nước, biểu tượng thiêng của đền Trần Thương, nơi kho lương triều Trần sẽ mãi là biểu tượng đẹp đẽ trong tâm thức của bao người./.
|
You must be a registered subscriber in order to view this Article.
To learn more about becoming a subscriber, please visit our Subscription Services page.
Quay Về
 |
Có lỗi xảy ra. Error: Unable to load the Article Details page. |
|
Đền Trần Thương, một biểu tượng thiêng trong tâm thức người dân
Thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam là nơi được Trần Hưng Đạo chọn làm kho lương của nhà Trần để phục vụ cuộc chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII. Nhân dân nơi đây đang nô nức chuẩn bị cho Lễ Phát lương vào giờ Tý, Rằm tháng Giêng, Tết Canh Dần 2010, tiến tới Đại lễ kỷ niệm 710 năm ngày mất của vị Anh hùng dân tộc Tiết Chế Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (20/8/1300 - 20/8/2010).
| |
| |
|
Thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam là nơi được Trần Hưng Đạo chọn làm kho lương của nhà Trần để phục vụ cuộc chiến chống Nguyên - Mông thế kỷ XIII. Nhân dân nơi đây đang nô nức chuẩn bị cho Lễ Phát lương vào giờ Tý, Rằm tháng Giêng, Tết Canh Dần 2010, tiến tới Đại lễ kỷ niệm 710 năm ngày mất của vị Anh hùng dân tộc Tiết Chế Quốc Công Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn (20/8/1300 - 20/8/2010).
Đền Trần Thương thuộc thôn Miễu, xã Trần Thương, tổng Thổ Ốc, huyện Nam Xang thuộc phủ Lỵ Nhân (trấn Sơn Nam Thượng), thời Lý Trần thuộc Châu Lợi Nhân, lộ Đông Đô, năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) lệ vào tỉnh Hà Nội, nay là thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, nằm ở phía Đông của huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam giáp sông Hồng.
 Muốn đến đền Trần Thương, khách thập phương có thể đi từ thành phố Phủ Lý về Vĩnh Trụ 14 km, theo đường ĐT 491 đi Bắc Lý, đến Cầu Không đi khoảng 4 km về phía Cống Tróc là có lối rẽ vào đền, hoặc từ Nam Định theo đường ĐT492 lên Vĩnh Trụ, rồi theo đường ĐT491 đi tiếp, hay đi dọc đê sông Hồng, đến điếm Tổng rẽ về Trần Thương...
Thế đất của đền Trần Thương: Bằng nhãn quan của nhà quân sự, nhà chính trị lỗi lạc, Trần Quốc Tuấn chọn nơi cất giữ lương thảo, khí giới với thế đất “Hình nhân bái Tướng” và thuận tiện cho việc chi viện từ tổng kho Thăng Long (do Bà Nguyễn Thị Duyên ở làng Giảng Võ xưa coi giữ, nay là Quận Ba Đình, được nhân dân tôn vinh Bà Chúa Kho). Kho lương này có thể tiếp ứng quân lương xuôi sông Hồng về hay từ biển qua cửa Tuần Vường vào, chuẩn bị cho cuộc chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ 2 (1285). Cũng từ vị trí này, có thể chi viện cho quân ta ở Nam Thanh (Hải Dương), Tiên Lãng (Hải Phòng), Châu Hoan, Châu Ái (Nghệ An - Thanh Hóa). Địa thế này rất thuận tiện cho việc vận chuyển lương thảo của triều đình đến hoặc quân lương, khí giới của giặc tiếp viện đường biển quân ta cướp được đưa về. Địa thế vùng chiêm trũng thì hiểm yếu và khó với giặc, nhưng quân binh nhà Trần giỏi sông nước nên hợp ý quân. Vùng đất này có 6 con mương nhỏ gọi là “Lục đầu khê” như 6 con rồng chầu về. Đi theo các mương này ra Long Xuyên, xuôi Xuân Khê, ra sông Châu, xuống Tuần Vường ra biển. Hoặc từ đây ra sông Hồng chỉ gần 2 km, rồi qua phố Hiến (Hưng Yên), hay về Thăng Long. Chính vì thế đất quý nên Trần Hưng Đạo chọn làm kho và đặt tên là Trần Thương (nghĩa Hán, chữ thương là kho). Ông còn đặt tên các địa danh: “Đội Xuyên” (quân canh giữ thường xuyên), “Khu Mật” (khu tối mật), “Khu Hoàng” (khu của các vị hoàng tộc, vương tộc, quan tướng ở). Hiện nay, ở nơi đây vẫn còn giữ được tên cũ như Trần Thương, Khu Hoàng, Đội Xuyên. Chính vì tích hội đủ các yếu tố “Thiên - Địa - Nhân” ở đây nên nhân dân đã dựng đền thờ ông để tưởng nhớ công lao vị tướng tài ba được người đời tôn vinh lên bậc Thánh.
Đền được dựng vào thời hậu Lê, sang thời Nguyễn thì làm lại. Năm 1893, niên hiệu vua Thành Thái thứ năm thì trùng tu lần đầu. Với những nét đặc sắc và độc đáo về kiến trúc, sắp xếp địa cơ theo phong thủy như: Phía trước cổng có hồ nước gọi là “Huyền vũ” án cửa; cổng Tam quan chính Nam (theo kinh dịch là Ly) gọi là “Ngọ Môn Quan”. Từ cổng đi vào hơn 100m là tới đền. Ngay phía trước gian tiền tế là cổ lâu kê lư đá để thiêu hương. Tiếp theo là giếng nước ở giữa đền trước gian đệ nhị, đến gian đệ tam là hậu cung nơi thờ tượng của ngài, hai bên có tả vu và hữu vu nối đệ tam và đệ nhị trong tổng kiến trúc kiểu nội công ngoại quốc đậm nét kiến trúc thời Lý - Trần, kết tụ văn hóa Lê - Nguyễn ở đây. Sau đền là phủ thờ Mẫu, tiếp đến có gò đất cao tạo sơn trạch vững chắc ở chính Bắc (Khảm - Thủy) mang ý nghĩa thủy sinh mộc (trước có cây đa trên trăm tuổi đã đổ, nay đã trồng cây khác). Cây đa (mộc) còn là biểu tượng sự trường thọ, đặc trưng cho hướng Đông (Mão - Chấn), đứng cạnh chữ “Tiết” thành chữ “Trần”. Phía trước đền cả bên tả bên hữu có 2 giếng nước tượng trưng đôi vú, có hai giếng nhỏ cạnh phủ Mẫu là 2 tai. Như vậy, hồ nước trước cổng với bốn giếng ngoài đền và hồ khẩu bên trong cộng lại là lục thủy đều nạp âm trong tổng diện tích khu đền gần 19 ha. Điểm nổi trội là từ tư duy quân sự, cộng với tư duy của triết thuyết Khổng giáo về kinh dịch mà Trần Hưng Đạo chọn thế đất hình “Nhân bái tướng”, thế nước là “Lục vận” như: Lục hồ (ở đền); Lục đầu khê (6 sông nhỏ bên ngoài); Lục đầu giang (ở Kiếp Bạc). Như theo Hậu Thiên Bát quái thì Khảm (thủy) mang số 1; Kiền (Trời) mang số 6 là biểu tượng như vậy.
Đền được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá năm 1989. Năm 2009 được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cấp nguồn tôn tạo, trùng tu lại ngôi đền và được Trung ương cấp ngân sách quy hoạch mở rộng, cho phép mở Đại lễ kỷ niệm 710 năm ngày mất của Trần Hưng Đạo vào năm 2010. Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cùng với UBND huyện, Hội Đồng hương Hà Nam ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, nhân dân và khách thập phương xa gần tâm đức cúng tiến, đền đã được trùng tu và xây dựng trong tổng diện tích là 25 ha để kịp cho Đại lễ.
Tâm thức giỗ cha: Dân gian có câu: “Tháng tám giỗ Cha” là nói về ngày giỗ Đức Thánh Trần. Ngày “Giỗ Cha” là khi Trần Quốc Tuấn qua đời, ngày 20/8 năm Canh Tý (tức năm Hưng Long thứ tám, ngày 5 tháng 9 năm 1300). Ông mất tại tư dinh ở Phủ Đệ Vạn Kiếp, nay là đền thờ Kiếp Bạc thuộc xã Hưng Đạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Kiếp Bạc cùng với Bảo Lộc (Nam Định - quê hương ông) và Trần Thương là 3 nơi chính tổ chức lễ hội hằng năm đáp ứng tâm nguyện của nhân dân về chiêm bái và “Giỗ Cha”. Cũng rất nhiều nơi lập đền thờ ông, song nhân dân về Trần Thương vừa “Giỗ Cha” vừa bái yết xin “Lương”, xin lộc như ở đền Bà Chúa Kho vậy.
 Có câu: “Sinh Kiếp Bạc, thác Trần Thương, quê hương Bảo Lộc”. Chữ thác ở đây là gửi, là phó thác. Ngay từ lúc sinh thời, Trần Hưng Đạo đã gửi gắm sinh phần ở Trần Thương, chính vì vậy mà nhiều người cho rằng “thác Trần Thương” có nghĩa là ông để phần mộ ở đây. Ngay cả một số nhà ngoại cảm hiện nay cũng cho là như vậy (?). Theo truyền thuyết, Kiếp Bạc là nơi sau kháng chiến chống quân Nguyên - Mông kết thúc thắng lợi (1288), ông xa giá hai Vua về Thăng Long (Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông) rồi trở về tư dinh tại Phủ Đệ, bên thung lũng Kiếp Bạc cạnh Lục Đầu Giang. Đến khi lâm bệnh nặng, ông dặn con cháu: “Ta chết phải hỏa táng, cho xương vào những ống tròn chôn ở vườn An Lạc rồi trồng cây như cũ để người đời sau không biết đâu mà tìm”. Lời di chúc này liệu có gắn với “Viên Lăng” (tức là vườn mộ của ông) mà dân gian thường gọi ở một quả đồi nhỏ cách Kiếp Bạc 100m về phía Nam (?). Cho đến nay, các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được mộ phần của Trần Hưng Đạo ở đâu. Theo truyền thuyết, đám tang của ông có trên 70 chiếc quan tài từ tư dinh cùng một lúc xuất phát và đưa tang rải đi khắp nơi, có vợ con ông chia ra đi cùng.
Tuy chưa biết nơi nào ông yên nghỉ, song với tâm thức của người dân dành tình cảm kính trọng Đức Thánh Trần là Cha, biểu tượng thiêng liêng về bậc Đại Nhân, Đại Trí, Đại Dũng của trăm họ nên hằng năm vào ngày 20/8 âm lịch, nhân dân và khách thập phương xa gần về chiêm bái và tưởng niệm Đức Thánh Trần trong ý niệm thiêng liêng là “Tháng tám giỗ Cha” đã từ lâu.
Vào tháng tám âm lịch hằng năm, nhân dân tấp nập chuẩn bị cho ngày lễ chính. Từ ngày mồng một đầu tháng, nhân dân đã đến cúng bái lấy phúc. Đến mồng 10 là rước nước từ sông Hồng về. Các cụ kể lại là vừa “rước nước” vừa “nhập lương”. Còn có các nghi lễ cầu đảo, cúng tế đầu năm vào ngày tết Nguyên Đán, các vụ chiêm - mùa thì cầu cho bội thu với tâm ý là nơi kho lương của Đức Thánh Trần. Ngày mười rằm hương đăng hoa quả, ngày 18 là ngày cúng Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng (con thứ 3 của ông). Ngày 20 là tổ chức dâng hương giỗ chính, tiến hành phần “Lễ” gọi là phần thiêng, trong không khí thiêng hóa làm lòng người cùng cộng cảm và cộng mệnh. Hương trầm ngát tỏa, tất cả như thấy Hưng Đạo Đại Vương trên cao xanh, đang trầm tư vạch kế sách giữ nước với những áng thiên cổ hùng văn bất hủ như: “Vạn Kiếp Bí Tông Truyền thư”, “Binh Gia Diệu Lý Lếu lược” và “Hịch Tướng sỹ”.
Nghi thức phát lương: Nghi thức này nhằm tái hiện lịch sử về “Phát quân lương” khao quân của quân đội nhà Trần khi đánh thắng giặc Nguyên - Mông lần thứ 3 (1288). Lễ tế từ Tết Cả (tết Nguyên Đán) có gạo, hạt sen, đỗ là sản phẩm của quê hương. Dân gian có câu: “Cá Nhân Đạo, gạo Trần Thương”. Đến giờ Tý ngày 15 tháng Giêng (Tết Thượng Nguyên - rằm Nguyên Tiêu, còn gọi là ngày Vía của Phật Tổ) là tiến hành tế, lễ rồi “Xuất lương - Phát lộc” (Lộc Đức Thánh Trần). Ngoài ra, trong các ngày mồng một và rằm hằng tháng, cả 12 cái tết trong năm cũng đều cầu cho mùa màng, lương thực phúc lộc dồi dào. Bà con ở xa đến cúng lễ và công đức đều có “lương” ở đây mang về.
Tục rước nước: Trong Lễ hội ở nhiều nơi có tục rước nước để thực hiện nghi thức gọi là “Mộc Dục” (tẩy uế, hoặc rửa vật linh, tắm tượng). Nhưng ở đền Trần Thương, rước nước về tức là giữ vận nước may mắn cho đời sau. Không những thế, tục rước nước còn thể hiện là “nghinh lộc”, đón tinh khí của trời đất đem đến cho mùa màng.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng với tâm đức của nhân dân cả nước, biểu tượng thiêng của đền Trần Thương, nơi kho lương triều Trần sẽ mãi là biểu tượng đẹp đẽ trong tâm thức của bao người./.
|
You must be a registered subscriber in order to view this Article.
To learn more about becoming a subscriber, please visit our Subscription Services page.
Quay Về
 |
Có lỗi xảy ra. Error: Unable to load the Article Details page. |
|
|